Hội thảo chuyên đề: Lao động trong khu vực Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - Thực trạng và giải pháp

10:52:00 19/06/2018

Sáng nay tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế, Hà Nội, Trong khuôn khổ các hoạt động chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết 30 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, hôm nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội tổ chức Hội thảo chuyên đề “Lao động trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: thực trạng và giải pháp”.

 

Chủ trì và tham dự Hội nghị, đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ông Vũ Đại Thắng, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ông Lê Quân, Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương Binh và Xã Hội. 

Về góc nhìn từ địa phương, có đại diện của tỉnh Bắc Ninh và Đồng Nai, cùng các diễn giả là chuyên gia đến từ các Viện Kinh tế Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Ngân hàng Thế giới, Cục Việc làm, Viện Khoa học Lao động và Xã hội đã nêu lên được thực trạng và giải pháp về lao động trong khu vưc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. 

 

Tính đến tháng 5 năm 2018, Việt Nam thu hút được 25.691 dự án FDI với tổng vốn đăng ký gần 323 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế ước đạt 179,12 tỷ USD, bằng 55,5% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.

- Theo lĩnh vực: các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với 198,13 tỷ USD, chiếm 57,9% tổng vốn đầu tư, tiếp theo là kinh doanh bất động sản với 51,84 tỷ USD (chiếm 16,1% tổng vốn đầu tư), sản xuất, phân phối điện, khí nước với 21,71 tỷ USD (chiếm 6,7% tổng vốn đầu tư).

- Theo đối tác đầu tư: đã có 127 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, trong đó đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký 59,46 tỷ USD (chiếm 18,4% tổng vốn đầu tư), thứ hai là Nhật Bản với 50,6 tỷ USD (chiếm 15,7% tổng vốn đầu tư), tiếp theo lần lượt là Singapore, Đài Loan, British Virgin Islands và Hồng Kông.

- Theo địa bàn: ĐTNN đã có mặt ở tất cả 63 tỉnh, thành phố, trong đó thành phố Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu với 45,52 tỷ USD (chiếm 14,1% tổng vốn đầu tư), tiếp theo là Bình Dương với 30,8 tỷ USD (chiếm 9,5% tổng vốn đầu tư), Hà Nội với 27,85 tỷ USD (chiếm 8,6% tổng vốn đầu tư).

Theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, FDI góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ cấm vận của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, tạo điều kiện để Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hóa và đa dạng hóa, đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư. Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện.Không thể phủ nhận, FDI là nguồn bổ sung quan trọng vào tổng vốn đầu tư toàn xã hội, nhất là trong giai đoạn đầu Việt Nam mới mở cửa. Những năm gần đây, nguồn vốn FDI thực hiện đã đạt mức trên 17 tỷ USD, chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư cả nước, đóng góp khoảng 20% GDP. Các doanh nghiệp FDI năm 2017 chiếm 72,6% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Về tổng thể, các doanh nghiệp FDI đóng góp nguồn vốn không nhỏ vào nguồn thu ngân sách Nhà nước. Năm 2017 là gần 8 tỷ USD, chiếm 14,4% tổng thu ngân sách.

Chấp nhận cạnh tranh trên sân nhà khi thu hút vốn FDI, các nhà hoạch định chính sách, nhiều ngành và địa phương hy vọng, cùng với tăng nguồn vốn, mở rộng thị trường, các doanh nghiệp FDI sẽ tiến hành chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý cho người Việt Nam, tạo sức ép về cạnh tranh, đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp trong nước.

Hiện nay 58% vốn FDI tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, tạo ra 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ chốt của nền kinh tế như dầu khí, điện tử, viễn thông….Ngoài ra, FDI còn góp phần vào việc chuyển đổi cơ cấu của các ngành, lĩnh vực theo hướng tích cực.

Tuy vậy, khu vực FDI cũng bộc lộ những bất cập như trong công nghiệp các dự án FDI chủ yếu tập trung vào lắp ráp, gia công, tỷ lệ nội địa hóa thấp, giá trị tạo ra tại Việt Nam không cao. FDI chưa tạo được mối liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp Việt Nam để cùng tham gia chuỗi giá trị, chưa thúc đẩy được công nghiệp hỗ trợ Việt Nam phát triển. Hoạt động chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý chưa đạt như kỳ vọng. Đóng góp ngân sách nhà nước chưa tương xứng, một số doanh nghiệp có hiện tượng chuyển giá, trốn thuế hoặc vi phạm các quy định về xử lý môi trường.

Thứ trưởng cũng nêu ra hai khía cạnh tích cực lớn;

Thứ nhất, khu vực FDI đã tạo việc làm và thu nhập ổn định cho một bộ phận không nhỏ lao động. Lao động trong các doanh nghiệp FDI tuy chiếm tỷ trọng thấp nhưng có hiệu quả sản xuất kinh doanh khá cao. Khu vực FDI có những đóng góp đáng kể trong việc đào tạo lao động có chất lượng. Tốc độ tăng việc làm của khu vực FDI luôn cao, nhất là sau khi gia nhập WTO. Sự có mặt của khu vực này đã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông thôn ra các thành phố, đặc biệt là vào các KCN, KCX lớn.

Thứ hai, khu vực FDI đã góp phần cải thiện nguồn nhân lực.Thông qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp FDI, một đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật có trình độ cao, cao tay nghề, từng bước được hình thành và dần tiếp cận được với khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao và có tác phong công nghiệp hiện đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức, kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Một bộ phận lao động địa phương được tiếp nhận vào làm việc trong các doanh nghiệp FDI được bồi dưỡng, đào tạo tay nghề, ngoại ngữ, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từng bước thay thế được các vị trí quan trọng, chủ chốt của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, FDI cũng làm mất đi nhiều việc làm truyền thống, tạo thêm áp lực xã hội cho các địa phương có liên quan; Đặc biệt, thu hút lao động của các doanh nghiệp FDI còn thiên về khai thác nguồn lao động có giá nhân công rẻ, ít đào tạo, thậm chí dùng cơ chế thử việc để liên tục thay lao động. Nhiều doanh nghiệp có tỷ lệ lao động nữ rất cao, nhưng giá nhân công thấp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây bất ổn trong quan hệ lao động. Việc di cư ồ ạt giữa các vùng, địa phương cũng làm nảy sinh vấn đề an sinh xã hội như công tác tái định cư, đảm bảo cơ sở hạ tầng thiết yếu…

 

Còn  theo TS. Lê Văn Hùng, Viện Kinh tế Việt Nam, Giữa các thành phần kinh tế, khu vực FDI luôn có NSLĐ tuyệt đối cao nhất so với khu vực nhà nước và ngoài nhà nước, đặc biệt khi so sánh với khu vực ngoài nhà nước. Yếu tố chính dẫn tới kết quả chênh lệch này do khu vực FDI tập trung chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp chế biến trong khi khu vực nội địa lao động vẫn chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp và khu vực phi chính thức, những ngành có NSLĐ tuyệt đối rất thấp.

Sự khác biệt về lĩnh vực đầu tư, qui mô vốn đầu tư, qui mô lao động dẫn tới NSLĐ bình quân của khu vực FDI cao hơn gấp nhiều lần so với lao động làm việc trong khu vực ngoài nhà nước. Tuy nhiên, khoảng cách về NSLĐ tuyệt đối giữa khu vực FDI và ngoài nhà nước dần được thu hẹp từ mức 10,2 lần năm 2005 xuống  7,8 lần năm 2015. Tương tự, khoảng cách giữa khu vực FDI và khu vực nhà nước giảm từ 1,9 lần xuống còn 1,4 lần trong giai đoạn này. Điều đó cho thấy khu vực kinh tế trong nước cũng có những bước tiến đáng kể về năng suất lao động tuyệt đối. Sự gia tăng đáng kể số lượng doanh nghiệp đăng ký hoạt động và sự dịch chuyển mạnh mẽ của lao động từ lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp có đóng góp quan trọng tới kết quả này.

Tuy nhiên, dù có sự thu hẹp về năng suất lao động nhưng khoảng cách tuyệt đối giữa các thành phần kinh tế vẫn rất lớn.

 

Nguồn: IPCN